Nghị định 239/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về khuyến mại

Nghị định 239/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về khuyến mại không chỉ sửa đổi thủ tục mà còn bãi bỏ một số giới hạn và thành phần hồ sơ quan trọng. Nghị định 239/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày ký ban hành: 26/06/2026.

Thảo luận Topic tại: https://www.facebook.com/groups/congvanketoan/

Điểm mới tại Nghị định 239/2026/NĐ-CP

Nhóm nội dung Điểm mới cần lưu ý Tóm tắt lí do thay đổi
1. Hàng hóa, dịch vụ không được khuyến mại/dùng để khuyến mại Làm rõ danh mục loại trừ: rượu, xổ số, thuốc lá, sữa thay thế sữa mẹ, thuốc kê đơn trừ trường hợp khuyến mại cho thương nhân kinh doanh thuốc, dịch vụ khám chữa bệnh công lập, dịch vụ giáo dục công lập, giáo dục nghề nghiệp công lập, hàng hóa/dịch vụ bị cấm lưu hành, hàng hóa/dịch vụ bị cấm khuyến mại theo Điều 100 Luật Thương mại. Quy định cũ về hàng hóa/dịch vụ cấm khuyến mại dễ không phù hợp khi pháp luật chuyên ngành thay đổi, nên cần lược bỏ/bố trí lại các trường hợp đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh.
2. Tiền được dùng để khuyến mại Bổ sung quy định tiền có thể được sử dụng như hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, trừ các hình thức khuyến mại tại Điều 8, Điều 10, Điều 11 Nghị định 81. Lý do chung là thực tế đã phát sinh nhiều hình thức khuyến mại mới, đặc biệt trong thanh toán điện tử, voucher, mã số, mã vạch, thông điệp dữ liệu.
3. Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ

Phiếu mua hàng/phiếu sử dụng dịch vụ có thể dùng để mua hàng, nhận dịch vụ của chính thương nhân đó hoặc thương nhân/tổ chức khác.

Bên phát hành và bên sử dụng phiếu phải chịu trách nhiệm và tuân thủ quy định về phòng, chống rửa tiền.

Thực tế phiếu mua hàng/phiếu thanh toán trước đây chủ yếu dạng giấy/thẻ, nay chuyển sang bản điện tử, mã số, mã vạch và được dùng phổ biến trong khuyến mại, nên cần có cơ sở pháp lý rõ hơn.
4. Xác định trúng thưởng trong chương trình may rủi Cho phép khách hàng chứng kiến việc xác định trúng thưởng trực tiếp hoặc trực tuyến, nhưng vẫn phải công khai, theo thể lệ đã công bố và lập biên bản. Quy định cũ không rõ chứng kiến trực tiếp hay gián tiếp; trong Covid-19 và bối cảnh chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp đã tổ chức xác định trúng thưởng qua nền tảng trực tuyến.
5. Giải thưởng không có người trúng thưởng Giải thưởng không có người trúng thưởng là giải thưởng còn lại tại thời điểm kết thúc thời hạn trao thưởng, trừ trường hợp trao quá hạn do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Bất cập là doanh nghiệp đã trao được giải cho khách nhưng quá hạn vẫn có thể bị coi là giải thưởng không có người trúng thưởng và phải nộp 50% giá trị giải thưởng vào NSNN. Việc sửa nhằm giảm rủi ro cho doanh nghiệp trong trường hợp khách quan.
6. Thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại Thu hẹp trường hợp phải thông báo. Theo quy định mới, thương nhân thông báo trước với Sở Công Thương chủ yếu đối với chương trình theo Điều 12, trừ các trường hợp được miễn. Mục tiêu chung là cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm điểm nghẽn, giảm chi phí tuân thủ và khơi thông hoạt động kinh doanh.
7. Các trường hợp không phải thông báo khuyến mại

Không phải thông báo nếu khuyến mại theo khoản 8 Điều 92 Luật Thương mại và các Điều 8, 9, 10, 11, 14 Nghị định 81.

Với Điều 12, cũng được miễn nếu tổng giá trị giải thưởng/quà tặng dưới 100 triệu đồng hoặc chỉ thực hiện qua sàn TMĐT, ứng dụng sàn TMĐT, website/ứng dụng khuyến mại trực tuyến.

Phù hợp với định hướng cắt giảm thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
8. Cách thức nộp hồ sơ thông báo/đăng ký khuyến mại Chuẩn hóa cách thức nộp: qua dịch vụ bưu chính công ích, thuê dịch vụ/ủy quyền theo pháp luật, hoặc trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia. Áp dụng cho thông báo, sửa đổi thông báo, đăng ký và sửa đổi đăng ký chương trình khuyến mại. Lý do chung là đơn giản hóa thủ tục hành chính và phù hợp chuyển đổi số/cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
9. Thời hạn xử lý đăng ký sửa đổi, bổ sung chương trình khuyến mại Cơ quan quản lý xem xét, trả lời xác nhận/không xác nhận việc đăng ký sửa đổi, bổ sung nội dung chương trình khuyến mại trong 04 ngày làm việc. Nhóm cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
10. Bãi bỏ giới hạn 120 ngày/năm đối với khuyến mại giảm giá

Bãi bỏ khoản 5 Điều 10 Nghị định 81.

Trước đây, tổng thời gian khuyến mại bằng hình thức giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ không vượt quá 120 ngày/năm.

Doanh nghiệp ngày càng có nhu cầu thực hiện nhiều chương trình khuyến mại; giới hạn thời gian không còn phù hợp, hạn chế hoạt động kinh doanh, nên bãi bỏ để khơi thông nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng.
11. Bãi bỏ Điều 6, Điều 7 Nghị định 81 đã được sửa bởi Nghị định 128/2024 Bãi bỏ nhóm quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại và mức giảm giá tối đa đã được sửa bởi Nghị định 128/2024. Tuy nhiên, không nên hiểu là bỏ hoàn toàn hạn mức, vì Nghị định 239 sửa Điều 32 theo hướng giao Bộ Công Thương quy định cụ thể hạn mức và mức giảm giá tối đa. Tờ trình nêu lý do là Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư 39/2025/TT-BCT quy định hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại và mức giảm giá tối đa theo thẩm quyền được phân quyền (*)
12. Bãi bỏ điểm c khoản 4 Điều 19 Bãi bỏ một thành phần trong hồ sơ đăng ký thực hiện chương trình khuyến mại. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn cần mô tả bằng chứng xác định trúng thưởng trong Mẫu số 03 mới nếu chương trình có yếu tố trúng thưởng. Giảm hồ sơ, giảm chi phí tuân thủ, nhưng cần thận trọng khi diễn giải.
13. Thay thế Mẫu số 03, 08, 11, 12, 13, 14 Thay thế các mẫu biểu về thể lệ chương trình khuyến mại, quyết định thu nộp 50% giải thưởng không có người trúng thưởng, xác nhận/không xác nhận đăng ký hội chợ triển lãm, đăng ký sửa đổi và báo cáo kết quả hội chợ triển lãm. Mẫu số 08 có mâu thuẫn về thời hạn thực hiện quyết định: mẫu cũ ghi 30 ngày làm việc, trong khi quy định liên quan là 45 ngày; do đó cần thay mẫu để thống nhất áp dụng.
14. Hội chợ, triển lãm thương mại tại nước ngoài Thẩm quyền đối với hội chợ, triển lãm thương mại tại nước ngoài là UBND cấp tỉnh. Việc phân cấp cho UBND cấp tỉnh để phù hợp Nghị định 146/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại.
15. Thời hạn xác nhận đăng ký hội chợ, triển lãm Thời hạn xác nhận/không xác nhận đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại là 05 ngày làm việc. Đăng ký sửa đổi, bổ sung nội dung tổ chức hội chợ, triển lãm cũng xử lý trong 05 ngày làm việc. Mục tiêu cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục từ 07 ngày làm việc xuống 05 ngày làm việc.
16. Hiệp thương khi trùng hội chợ, triển lãm Chỉ tổ chức hiệp thương khi có từ hai thương nhân/tổ chức trở lên đăng ký tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam trùng tên, chủ đề, thời gian, địa bàn. Nếu không hiệp thương được thì cơ quan có thẩm quyền quyết định theo các tiêu chí: kết quả đã tổ chức, năng lực, kinh nghiệm, đánh giá của hiệp hội ngành hàng. Nếu hội chợ, triển lãm tại nước ngoài đã phân cấp cho địa phương, thương nhân có thể nộp tại nhiều tỉnh/thành khác nhau; khi đó việc hiệp thương để lựa chọn một bên là không khả thi, nên chỉ áp dụng hiệp thươn

Nghị định 128/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về khuyến mại

Tham khảo giới hạn tại thông tư 39/2025/TT-BCT

Điều 3. Hạn mức tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại

1. Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá bán ngay trước thời gian khuyến mại của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó, trừ trường hợp khuyến mại bằng các hình thức quy định tại khoản 8 và khoản 9 Điều 92 Luật Thương mại. Điều 8, khoản 2 Điều 9, Điều 12, Điều 13, Điều 14 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại.

2. Tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, trừ trường hợp khuyến mại bằng hình thức quy định tại khoản 8 và khoản 9 Điều 92 Luật Thương mại, Điều 8 và khoản 2 Điều 9 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP.

3. Giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Trường hợp thương nhân thực hiện khuyến mại không trực tiếp sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hoặc không trực tiếp cung ứng dịch vụ dùng để khuyến mại, giá trị được tính bằng giá thanh toán của thương nhân thực hiện khuyến mại để mua hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại hoặc giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại tại thời điểm công bố;

b) Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa của thương nhân đó trực tiếp sản xuất, nhập khẩu hoặc cung ứng dịch vụ, giá trị dược tính bằng giá thành hoặc giá nhập khẩu của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại.

4. Trong các trường hợp tổ chức chương trình khuyến mại tập trung thì áp dụng hạn mức tối đa về giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là 100%. Hạn mức tối đa về giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại 100% cũng được áp dụng đối với các hoạt động khuyến mại trong khuôn khổ các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương quyết định.

5. Chương trình khuyến mại tập trung theo quy định tại Khoản 4 Điều này gồm:

a) Cơ quan nhà nước (cấp trung ương và cấp tỉnh) ban hành quyết định tổ chức thực hiện chương trình khuyến mại tập trung nhằm thực hiện các chính sách phát triển kinh tế có mục tiêu của quốc gia, của địa phương. Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung. Mọi thương nhân đều được quyền tham gia vào các chương trình;

b) Các đợt khuyến mại vào các dịp lễ, tết theo quy định của pháp luật lao động, gồm:

– Đợt Tết Âm lịch: 30 ngày ngay trước ngày đầu tiên của năm Âm lịch;

– Các ngày nghỉ lễ, tết khác. Thời hạn khuyến mại của từng đợt khuyến mại vào các dịp lễ, tết không được vượt quá thời gian nghỉ của các dịp lễ, tết tương ứng theo quy định của pháp luật lao động.

Điều 4. Mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại

1. Mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hóa, dịch vụ đó ngay trước thời gian khuyến mại.

2. Trong các trường hợp tổ chức chương trình khuyến mại tập trung theo quy định tại khoản 5 Điều 3 thì áp dụng mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại là 100%. Mức giảm giá tối đa 100% cũng áp dụng đối với các hoạt động khuyến mại trong khuôn khổ các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương quyết định.

3. Không áp dụng hạn mức giảm giá tối đa khi thực hiện khuyến mại giảm giá cho:

a) Hàng hóa dịch vụ khi thực hiện chính sách bình ổn giá của Nhà nước;

b) Hàng thực phẩm tươi sống;

c) Hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp doanh nghiệp phá sản, giải thể, thay đổi địa điểm, ngành nghề sản xuất, kinh doanh.

Liên hệ nếu quý khách cần tư vấn thêm: Ms Huyền Hotline/Zalo – 094 719 2091

Email: pham.thi.thu.huyen@manaboxvn.jp.

_______________

Công ty TNHH Manabox Việt Nam
Phòng 701, tầng 7, tòa nhà 3D center, số 3 Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam Facebook: https://www.facebook.com/ManaboxVietnam

    Liên hệ với chúng tôi




    You cannot copy content of this page.

    Please contact with Manabox for more support.