Giải đáp nhiều tình huống xử phạt thuế hay Nghị định 310/2025/NĐ-CP

Cục thuế Giải đáp nhiều tình huống xử phạt thuế hay theo Nghị định 310/2025/NĐ-CP cụ thể như sau để độc giả nắm bắt thông tin

Thảo luận Topic tại: https://www.facebook.com/groups/congvanketoan/

Tải về: 310-cp.signed

 

STT

Câu hỏi (Nguyên văn)

Cơ sở pháp lý (Nguyên văn)

Giải đáp (Nguyên văn)

1

Khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ mà không lập hoá đơn thì bị xử phạt như thế nào?

Căn cứ Khoản 3 Điều 24 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung theo Điểm b Khoản 14 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP của Chính phủ: b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau: “3. Hành vi không lập hóa đơn theo quy định bị xử phạt như sau: a) Phạt cảnh cáo đối với hành vi không lập hóa đơn đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa 01 số hóa đơn;

b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp không lập hóa đơn đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 02 số hóa đơn đến dưới 10 số hóa đơn và trường hợp không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định 01 số hóa đơn; c) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng trong trường hợp không lập hóa đơn đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 10 số hóa đơn đến dưới 50 số hóa đơn và trường hợp không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định từ 02 số hóa đơn đến dưới 10 số hóa đơn;

d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp không lập hóa đơn đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 50 số hóa đơn đến dưới 100 số hóa đơn và trường hợp không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định từ 10 số hóa đơn đến dưới 20 số hóa đơn; đ) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp không lập hóa đơn đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 100 số hóa đơn trở lên và trường hợp không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định từ 20 số hóa đơn đến dưới 50 số hóa đơn;

e) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng trong trường hợp không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định từ 50 số hóa đơn trở lên.” Hành vi không lập hóa đơn theo quy định bị xử phạt VPHC căn cứ vào loại hóa đơn (hóa đơn mua bán hàng hóa hay hóa đơn dùng cho khuyến mại, quảng cáo, cho tăng, tiêu dùng nội bộ…) và số lượng hóa đơn vi phạm trong một vụ việc vi phạm hành chính. Mức phạt được áp dụng tăng dần theo số lượng hóa đơn vi phạm, cụ thể mức xử phạt được tổng hợp như sau:

Như vậy, mức phạt phụ thuộc trực tiếp vào số lượng hóa đơn không lập, không phân biệt giá trị từng hóa đơn. Trường hợp vi phạm với số lượng hóa đơn lớn, mức phạt có thể lên đến 80 triệu đồng theo quy định hiện hành.

2

Lập hoá đơn không đúng thời điểm thì bị xử phạt như thế nào?

Căn cứ Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung theo Điểm a Khoản 14 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP của Chính phủ: a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau: “2. Hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm theo quy định của pháp luật bị xử phạt như sau: a) Phạt cảnh cáo đối với hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa 01 số hóa đơn;

b) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng trong trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 02 số hóa đơn đến dưới 10 số hóa đơn và trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ 01 số hóa đơn; c) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 10 số hóa đơn đến dưới 50 số hóa đơn và trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ từ 02 số hóa đơn đến dưới 10 số hóa đơn;

d) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng trong trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 50 số hóa đơn đến dưới 100 số hóa đơn và trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ từ 10 số hóa đơn đến dưới 20 số hóa đơn; đ) Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng trong trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 100 số hóa đơn trở lên và trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ từ 20 số hóa đơn đến dưới 50 số hóa đơn;

e) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ từ 50 số hóa đơn đến dưới 100 số hóa đơn;

g) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng trong trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ từ 100 số hóa đơn trở lên.” Hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm theo quy định bị xử phạt VPHC căn cứ vào loại hóa đơn (hóa đơn mua bán hàng hóa hay hóa đơn dùng cho khuyến mại, quảng cáo, cho tăng, tiêu dùng nội bộ…) và số lượng hóa đơn vi phạm trong một vụ việc vi phạm hành chính. Mức xử phạt được quy định chi tiết theo số lượng hóa đơn lập không đúng thời điểm, cụ thể như sau:

Như vậy, mức phạt đối với hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm được xác định theo số lượng hóa đơn vi phạm, không căn cứ vào giá trị từng hóa đơn. Trường hợp vi phạm với số lượng lớn, mức phạt có thể lên đến 70 triệu đồng theo quy định hiện hành.

3

Doanh nghiệp/cá nhân có hành vi mua, bán, cho hoặc tặng hoá đơn không đúng quy định (ví dụ: hoá đơn không gắn với hàng hoá, dịch vụ thực tế), nhưng hoá đơn đó chưa được sử dụng để kê khai thuế, chưa làm giảm số thuế phải nộp và chưa bị coi là hành vi trốn thuế theo quy định của pháp luật, thì có bị xử phạt không?

Người bán có hành vi cho, bán hóa đơn thì sẽ bị xem xét xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 310/2025/NĐ-CP quy định: “2. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi cho, bán hóa đơn, trừ hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.”

Trường hợp người bán bán trái phép hóa đơn đã ghi nội dung từ 10 số trở lên thì có thể bị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xem xét xử lý hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước theo Điều 203 Bộ Luật Hình sự 2015.

4

Hóa đơn thuộc diện phải tiêu hủy nhưng không tiêu hủy đúng quy định thì xử phạt như thế nào?

Căn cứ Điều 27 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 17 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP của Chính phủ: “17. Sửa đổi Điều 27 như sau: “Điều 27. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về tiêu hủy hóa đơn 1. Phạt cảnh cáo đối với hành vi tiêu hủy hóa đơn quá thời hạn từ 01 đến 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn phải tiêu hủy hóa đơn theo quy định mà có tình tiết giảm nhẹ. 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Tiêu hủy không đúng quy định hóa đơn đặt in mua của cơ quan thuế không tiếp tục sử dụng, không còn giá trị sử dụng theo thông báo của cơ quan thuế; b) Không tiêu hủy các hóa đơn đặt in mua của cơ quan thuế không tiếp tục sử dụng, không còn giá trị sử dụng theo thông báo của cơ quan thuế; c) Tiêu hủy hóa đơn quá thời hạn từ 01 ngày đến 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn phải tiêu hủy hóa đơn theo quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. 3. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Tiêu hủy hóa đơn quá thời hạn từ 11 ngày làm việc trở lên, kể từ ngày hết thời hạn phải tiêu hủy hóa đơn theo quy định; b) Không tiêu hủy hóa đơn theo quy định của pháp luật; c) Tiêu hủy hóa đơn không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; d) Tiêu hủy hóa đơn không đúng các trường hợp phải tiêu hủy theo quy định.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tiêu hủy hóa đơn đối với hành vi quy định tại điểm b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều này.”. Căn cứ quy định nêu trên, hành vi không tiêu hủy hóa đơn hoặc iêu hủy hóa đơn không đúng quy định (về thời hạn, trình tự, thủ tục hoặc các trường hợp phải tiêu hủy) bị xử phạt tùy theo tính chất vi phạm và thời gian chậm tiêu hủy. Ngoài hình thức xử phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy hóa đơn đối với các hành vi không tiêu hủy hóa đơn theo quy định.

5

Kê khai thuế sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp thì bị phạt như thế nào?

Căn cứ Điều 16 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 310/2025/NĐ-CP của Chính phủ: “Điều 16. Xử phạt hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn 1. Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn cao hơn so với quy định đối với một trong các hành vi sau đây: a) Khai sai căn cứ tính thuế hoặc số tiền thuế được khấu trừ hoặc xác định sai trường hợp được miễn, giảm, hoàn thuế dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn nhưng các nghiệp vụ kinh tế đã được phản ánh đầy đủ trên hệ thống sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ hợp pháp;

b) Khai sai làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản thanh tra, kiểm tra thuế, biên bản vi phạm hành chính xác định là hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế vi phạm hành chính lần đầu về hành vi trốn thuế, đã khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt và cơ quan thuế đã lập biên bản ghi nhận để xác định là hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế; c) Khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn đối với giao dịch liên kết nhưng người nộp thuế đã lập hồ sơ xác định giá thị trường hoặc đã lập và gửi cơ quan thuế các phụ lục theo quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết; d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm nhưng khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện, người mua chứng minh được lỗi vi phạm sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp thuộc về bên bán hàng và người mua đã hạch toán kế toán đầy đủ theo quy định.

2. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn, miễn, giảm cao hơn quy định và tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được hoàn, miễn, giảm cao hơn quy định và tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định tại khoản 6 Điều 8 Nghị định này; b) Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ chuyển kỳ sau (nếu có) đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Trường hợp người nộp thuế có hành vi khai sai theo quy định tại điểm a, b, d khoản 1 Điều này nhưng không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp, tăng số thuế được miễn, giảm hoặc chưa được hoàn thuế thì không bị xử phạt theo quy định tại Điều này mà xử phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 12 Nghị định này”.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp người nộp thuế có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn không đúng quy định và bị cơ quan thuế phát hiện thì bị xử phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn so với quy định. Đồng thời, người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế thiếu và tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế. Trường hợp người nộp thuế tự phát hiện sai sót, nộp hồ sơ khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế thiếu, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra thuế thì không bị xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. Trường hợp NNT khai sai nhưng không làm thiếu số tiền thuế phải nộp, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm hoặc hoàn thì NNT không bị xử phạt theo Điều 16 mà bị xử phạt theo quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 12 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

6

Nộp hồ sơ khai thuế muộn thì bị phạt như thế nào?

Ngoài trường hợp NNT chậm nộp hồ sơ khai thuế và bị xử phạt về thủ tục thuế thì trường hợp NNT chậm nộp hồ sơ khai thuế quá 90 ngày có phát sinh số thuế phải nộp thì NNT bị xem xét xử phạt về hành vi trốn thuế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP.

Nếu số tiền thuế trốn đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 200 Bộ Luật hình sự thì cơ quan thuế chuyển hồ sơ của NNT sang cơ quan điều tra.

7

Các Ngân hàng thương mại và các tổ chức, cá nhân có liên quan khi được cơ quan thuế yêu cầu cung cấp thông tin nhưng không cung cấp hoặc cung cấp sai thông tin thì có bị phạt không?

Căn cứ Điều 19 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 12 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP của Chính phủ: “Điều 19. Xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân liên quan 1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế, tài khoản của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu của cơ quan thuế quá thời hạn quy định từ 05 ngày trở lên.

2. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người nộp thuế do mình nắm giữ; thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế; b) Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế; c) Cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tiền lương, tiền công hoặc thu nhập của người nộp thuế do mình nắm giữ theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Không cung cấp thông tin liên quan đến tài sản, quyền, nghĩa vụ về tài sản của người nộp thuế do mình nắm giữ; thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế; b) Không cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế; c) Không cung cấp thông tin liên quan đến tiền lương, tiền công hoặc thu nhập của người nộp thuế do mình nắm giữ theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế; d) Thông đồng, bao che người nộp thuế trốn thuế, không thực hiện quyết định cưỡng chế hành chính thuế, trừ hành vi không trích chuyển tiền từ tài khoản của người nộp thuế quy định tại Điều 18 Nghị định này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác đối với hành vi quy định tại khoản 2 và điểm a, b, c khoản 3 Điều này.”. Căn cứ quy định nêu trên, hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế bị xử phạt như sau: – Cung cấp thông tin, tài liệu quá thời hạn từ 05 ngày trở lên: phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng; – Cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác theo yêu cầu của cơ quan thuế: phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; – Không cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan thuế hoặc có hành vi thông đồng, bao che người nộp thuế vi phạm pháp luật về thuế: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng. Ngoài hình thức xử phạt tiền, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan thuế theo quy định của pháp luật.

8

Trường hợp hành vi vi phạm về thuế, hóa đơn xảy ra trước ngày 16/01/2026 – thời điểm Nghị định 310/2025/NĐ-CP có hiệu lực – thì cơ quan thuế sẽ áp dụng nghị định nào để xử phạt?

Căn cứ Điều 3 Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ: “Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp 1. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đã kết thúc trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì áp dụng quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm đó. 2. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đang được thực hiện trước ngày Nghị định này có hiệu lực và hành vi vi phạm hành chính đó được phát hiện sau ngày Nghị định này có hiệu lực thì áp dụng quy định tại Nghị định này.

3. Đối với các hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đã bị xử phạt trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà cá nhân, tổ chức còn khiếu nại, khởi kiện thì được giải quyết theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn và các quy định pháp luật liên quan có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm”. – Hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc (hành vi đã chấm dứt) trước ngày 16/1/2026 → Áp dụng Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. – Hành vi vi phạm bắt đầu trước ngày 16/01/2026 đang được thực hiện và bị phát hiện kể từ ngày 16/01/2026 → Áp dụng Nghị định số 310/2025/NĐ-CP, là văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm phát hiện hành vi VPHC.

9

Hộ kinh doanh thuê công ty dịch vụ kế toán – thuế thực hiện kê khai, nộp thuế theo hình thức ủy quyền. Trường hợp công ty kế toán làm sai hoặc làm chậm thủ tục thuế dẫn đến vi phạm, thì ai là người bị cơ quan thuế xử phạt?

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 2 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP của Chính phủ: “a) Người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn. Trường hợp người nộp thuế ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện các nghĩa vụ về thuế mà pháp luật về thuế, quản lý thuế quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của bên được ủy quyền phải thực hiện thay người nộp thuế thì nếu bên được ủy quyền có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thì tổ chức, cá nhân được ủy quyền bị xử phạt theo Nghị định này.

Trường hợp theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay người nộp thuế mà tổ chức, cá nhân đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thì tổ chức, cá nhân đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định tại Nghị định này.

Trường hợp theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu, đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai có nghĩa vụ đăng ký thuế, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung, đơn vị hợp thành được Tập đoàn giao trách nhiệm gửi thông báo đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai và danh sách các đơn vị hợp thành thuộc đối tượng áp dụng Nghị quyết số 107/2023/QH15 có hành vi vi phạm hành chính tại Nghị định này thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này.”.

Căn cứ quy định nêu trên, việc xác định đối tượng bị xử phạt phụ thuộc vào chủ thể có nghĩa vụ thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế và nội dung ủy quyền. Theo đó: – Trường hợp người nộp thuế ủy quyền cho công ty dịch vụ kế toán – thuế thực hiện các thủ tục thuế nhưng nghĩa vụ kê khai, nộp thuế theo quy định pháp luật vẫn thuộc trách nhiệm của người nộp thuế, thì khi xảy ra vi phạm, người nộp thuế là đối tượng bị xử phạt. – Trường hợp pháp luật về thuế, quản lý thuế quy định nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện thuộc về bên được ủy quyền hoặc bên khai, nộp thuế thay, thì nếu bên được ủy quyền hoặc bên khai, nộp thuế thay có hành vi vi phạm, tổ chức, cá nhân được ủy quyền hoặc thực hiện thay sẽ là đối tượng bị xử phạt theo quy định tại Nghị định số 125/2020/NĐ-CP. Việc ủy quyền không làm thay đổi trách nhiệm xử phạt trong trường hợp pháp luật về thuế vẫn xác định nghĩa vụ kê khai, nộp thuế thuộc người nộp thuế. Trường hợp pháp luật quy định nghĩa vụ thuộc bên được ủy quyền hoặc bên khai, nộp thuế thay, thì bên đó là đối tượng bị xử phạt.

10

Doanh nghiệp A có trụ sở tại khu vực bị ngập lụt nghiêm trọng, hệ thống điện, mạng Internet bị gián đoạn nhiều ngày dẫn đến việc chậm nộp hồ sơ khai thuế theo thời hạn quy định. Trường hợp này có bị xử phạt không?

Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP: “10. Các trường hợp bất khả kháng bao gồm: thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, chiến tranh, bạo loạn, đình công hoặc sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và người nộp thuế không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.”.

Trường hợp doanh nghiệp chứng minh được việc chậm nộp hồ sơ khai thuế phát sinh do nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc sự kiện khách quan không thể lường trước và không thể khắc phục được thì được xem xét không xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ thuế trong thời gian phát sinh sự kiện bất khả kháng đó.

11

Tập đoàn đa quốc gia ABC Group có nhiều đơn vị hợp thành tại Việt Nam và đã giao Công ty TNHH ABC Việt Nam làm đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai. Tuy nhiên, Công ty TNHH ABC Việt Nam không gửi thông báo về đơn vị chịu trách nhiệm kê khai và danh sách các đơn vị hợp thành, đồng thời nộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung chậm so với thời hạn quy định. Vậy đơn vị nào phải chịu trách nhiệm và việc xử lý được thực hiện như thế nào?

Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 2 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP của Chính phủ: “a) Người nộp thuế có hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.

Trường hợp người nộp thuế ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện các nghĩa vụ về thuế mà pháp luật về thuế, quản lý thuế quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của bên được ủy quyền phải thực hiện thay người nộp thuế thì nếu bên được ủy quyền có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thì tổ chức, cá nhân được ủy quyền bị xử phạt theo Nghị định này. Trường hợp theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay người nộp thuế mà tổ chức, cá nhân đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này thì tổ chức, cá nhân đăng ký thuế, khai, nộp thuế thay bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định tại Nghị định này.

Trường hợp theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu, đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai có nghĩa vụ đăng ký thuế, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung, đơn vị hợp thành được Tập đoàn giao trách nhiệm gửi thông báo đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai và danh sách các đơn vị hợp thành thuộc đối tượng áp dụng Nghị quyết số 107/2023/QH15 có hành vi vi phạm hành chính tại Nghị định này thì bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này.” Trong trường hợp này, Công ty TNHH ABC Việt Nam là đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai theo phân công của Tập đoàn nên phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật về các nghĩa vụ đăng ký thuế, gửi thông báo, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định về thuế tối thiểu toàn cầu. Việc không gửi thông báo và nộp hồ sơ khai thuế chậm được xác định là hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế. Do đó, Công ty TNHH ABC Việt Nam bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 310/2025/NĐ-CP, tương ứng với từng hành vi vi phạm; đồng thời phải thực hiện đầy đủ việc gửi thông báo, kê khai bổ sung và nộp đủ số thuế phát sinh (nếu có) theo quy định.

12

Doanh nghiệp chậm nộp tiền thuê đất phải nộp vào ngân sách nhà nước theo thông báo của cơ quan thuế và cho rằng đây không phải là “thuế” nên không thuộc phạm vi xử phạt có đúng không?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP: “1. Vi phạm hành chính về thuế là hành vi có lỗi do tổ chức, cá nhân thực hiện vi phạm quy định của pháp luật về quản lý thuế, pháp luật về thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu (tiền sử dụng đất; tiền thuê đất, thuê mặt nước; tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; các khoản thu theo quy định pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp) mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.”

Tiền thuê đất là khoản thu thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý nên thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về thuế. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, hành vi chậm nộp tiền thuê đất không bị xử phạt vi phạm hành chính mà bị tính tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

13

Doanh nghiệp trong cùng ngày nộp hồ sơ khai thuế GTGT và hồ sơ khai thuế TNCN, qua công tác kiểm tra cơ quan thuế phát hiện khai sai nhiều chỉ tiêu trên các hồ sơ thuế (khai sai doanh thu chịu thuế GTGT, số thuế GTGT còn được khấu trừ và số thuế TNCN đã khấu trừ), nhưng các sai sót này không làm thiếu số thuế phải nộp. Trường hợp này doanh nghiệp có bị xử phạt riêng cho từng chỉ tiêu khai sai không?

Căn cứ Điểm a Khoản 3 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP: “a) Trường hợp cùng một ngày người nộp thuế khai sai một hoặc nhiều chỉ tiêu trên các hồ sơ thuế thì hành vi khai sai thuộc trường hợp xử phạt về thủ tục thuế chỉ bị xử phạt về một hành vi khai sai chỉ tiêu trên hồ sơ thuế có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện theo quy định tại Nghị định này”.

Trường hợp công ty trong cùng một ngày khai sai một hoặc nhiều chỉ tiêu trên các hồ sơ thuế, các hành vi này thuộc vi phạm về thủ tục thuế và không làm thiếu số thuế phải nộp thì chỉ bị xử phạt một lần đối với hành vi khai sai chỉ tiêu trên hồ sơ thuế có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện, không xử phạt riêng lẻ từng chỉ tiêu khai sai.

14

Công ty hoạt động trong lĩnh vực phân phối hàng tiêu dùng, sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế. Trong tháng 1 và tháng 2 năm 2026, Công ty đã nhiều lần lập hóa đơn không đúng thời điểm so với thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho khách hàng, cụ thể: Ngày 17/01/2026, Công ty giao hàng cho khách A nhưng đến ngày 15/2/2026 mới lập 02 hóa đơn; Ngày 12/02/2026, Công ty giao hàng cho khách B nhưng đến ngày 10/3/2026 mới lập 03 hóa đơn; Ngày 15/03/2026, Công ty giao hàng cho khách C nhưng đến ngày 01/4/2026 mới lập 01 hóa đơn. Hỏi việc xử phạt đối với các hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm của công ty bị xử phạt như thế nào?

Theo quy định tại điểm đ Khoản 3 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 125/2020/NĐ-CP: “Trường hợp người nộp thuế thực hiện nhiều hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm, các hành vi vi phạm còn trong thời hiệu xử phạt và bị xử phạt trong một vụ việc vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt về một hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm có khung tiền phạt tương ứng với số lượng hóa đơn đã lập không đúng thời điểm theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định này” Các hành vi nêu trên của Công ty đều là lập hóa đơn không đúng thời điểm, còn trong thời hiệu xử phạt. Khi cơ quan thuế thực hiện kiểm tra và lập biên bản xử phạt, các hành vi vi phạm này được xác định và xử lý trong cùng một vụ việc vi phạm hành chính. Công ty đã thực hiện nhiều hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm tại các thời điểm khác nhau, nhưng các hành vi vi phạm:

– Cùng loại hành vi (lập hóa đơn không đúng thời điểm); – Còn trong thời hiệu xử phạt; – Bị phát hiện và xử phạt trong cùng một vụ việc vi phạm hành chính. Như vậy công ty không bị xử phạt riêng lẻ cho từng lần vi phạm. Việc xử phạt được thực hiện theo nguyên tắc chỉ xử phạt một hành vi, áp dụng khung tiền phạt tương ứng với tổng số lượng hóa đơn đã lập không đúng thời điểm, là 06 hóa đơn, theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 310/2025/NĐ-CP).

15

Công ty trong năm 2026 có nhiều lần bán hàng cho khách nhưng không lập hóa đơn. Cụ thể, ngày 17/1/2026 không lập hóa đơn đối với 02 giao dịch; ngày 2/2/2026 không lập hóa đơn đối với 03 giao dịch; ngày 01/03/2025 không lập hóa đơn đối với 01 giao dịch. Đến cuối tháng 3/2026, cơ quan thuế kiểm tra và xử phạt trong cùng một vụ việc. Trường hợp này công ty bị xử phạt như thế nào?

Mức xử phạt được áp dụng theo khung tiền phạt tương ứng với tổng số hóa đơn không lập, là 06 hóa đơn, theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 310/2025/NĐ-CP): “Trường hợp người nộp thuế thực hiện nhiều hành vi không lập hóa đơn, các hành vi vi phạm còn trong thời hiệu xử phạt và bị xử phạt trong một vụ việc vi phạm hành chính thì chỉ bị xử phạt về một hành vi không lập hóa đơn có khung tiền phạt tương ứng với số lượng hóa đơn đã lập không đúng thời điểm theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định này”.

Công ty thực hiện nhiều hành vi không lập hóa đơn, các hành vi này đều còn trong thời hiệu xử phạt và bị xử phạt trong cùng một vụ việc vi phạm hành chính, nên chỉ bị xử phạt về một hành vi không lập hóa đơn.

16

Công ty khi lập hồ sơ khai thuế GTGT tháng 12/2025 đã khai sai nhiều chỉ tiêu trên cùng một tờ khai, gồm: Chỉ tiêu [21] – Thuế GTGT còn được khấu trừ kỳ trước chuyển sang: khai sai do nhầm số liệu, làm tăng số thuế được khấu trừ; Chỉ tiêu [23] – Giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào: khai thiếu so với hóa đơn thực tế; Chỉ tiêu [40] – Thuế GTGT phải nộp: khai sai dẫn đến thiếu số thuế GTGT phải nộp so với thực tế.. Trường hợp này, Công ty bị xử phạt như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại điểm g Khoản 3 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 125/2020/NĐ-CP: ” g) Trường hợp người nộp thuế khai sai nhiều chỉ tiêu trên một hồ sơ thuế thuộc trường hợp bị xử phạt về thủ tục thuế thì chỉ bị xử phạt về một hành vi khai sai chỉ tiêu trên hồ sơ thuế có khung tiền phạt cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện theo quy định tại Nghị định này. Trường hợp người nộp thuế khai sai nhiều chỉ tiêu trên một hồ sơ thuế vừa thuộc trường hợp bị xử phạt về thủ tục thuế, vừa thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 16 hoặc Điều 17 Nghị định này thì chỉ bị xử phạt về một hành vi theo Điều 16 hoặc Điều 17 Nghị định này.”.

Đối với hồ sơ khai thuế GTGT tháng 12/2025 của Công ty, cơ quan thuế xác định Công ty đã khai sai nhiều chỉ tiêu trên cùng một hồ sơ khai thuế, trong đó có chỉ tiêu khai sai làm thiếu số thuế GTGT phải nộp. Căn cứ quy định nêu trên, Công ty khai sai đồng thời nhiều chỉ tiêu trên một tờ khai thuế, trong các hành vi khai sai này có hành vi thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 16 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP (hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp), nên Công ty chỉ bị xử phạt về một hành vi khai sai theo Điều 16. Các hành vi khai sai còn lại chỉ mang tính chất vi phạm thủ tục thuế không bị xử phạt riêng. Theo đó, Công ty bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo mức phạt tương ứng với hành vi khai sai làm thiếu số thuế phải nộp, đồng thời phải nộp đủ số thuế GTGT còn thiếu và tiền chậm nộp (nếu có) theo quy định.

17

Công ty trong quá trình tự rà soát đã phát hiện khai thiếu doanh thu khi lập hồ sơ khai thuế GTGT tháng 12/2025, dẫn đến thiếu số thuế GTGT phải nộp 85 triệu đồng. Ngày 30/1/2026, Công ty đã nộp hồ sơ khai bổ sung và tự giác nộp đủ số thuế còn thiếu trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra hoặc phát hiện vi phạm. Trường hợp này, Công ty có bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế không?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 9 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 7 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP ) quy định: “3. Không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với trường hợp khai sai, người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế và đã tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, cơ quan có thẩm quyền khác công bố quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế hoặc trước thời điểm cơ quan thuế phát hiện không qua kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế hoặc trước khi cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện.”

Căn cứ quy định trên, Công ty có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp, đã chủ động khai bổ sung hồ sơ khai thuế và tự giác nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện hoặc công bố quyết định kiểm tra, nên công ty không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi khai sai nêu trên.

18

Công ty kê khai thuế GTGT theo tháng. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế GTGT tháng 12/2025 là ngày 20/1/2026 đến ngày 02/05/2026 Công ty mới nộp hồ sơ khai thuế. Trên hồ sơ khai thuế phát sinh số thuế GTGT phải nộp là 18 triệu đồng. Trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, Công ty đã nộp đủ số thuế và tiền chậm nộp. Trường hợp này, Công ty bị xử phạt như thế nào?

Căn cứ quy định tại Khoản 5 Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 10 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP ): “5. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn trên 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, có phát sinh số thuế phải nộp và người nộp thuế đã nộp đủ số tiền thuế, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, cơ quan có thẩm quyền khác công bố quyết định thanh tra, kiểm tra hoặc trước thời điểm cơ quan thuế lập biên bản về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế.

Trường hợp số tiền phạt nếu áp dụng theo khoản này lớn hơn số tiền thuế phát sinh trên hồ sơ khai thuế thì số tiền phạt tối đa đối với trường hợp này bằng số tiền thuế phát sinh phải nộp trên hồ sơ khai thuế hoặc tổng số tiền thuế phát sinh phải nộp trên các hồ sơ khai thuế thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 5 Nghị định này nhưng không thấp hơn mức trung bình của khung phạt tiền quy định tại khoản 4 Điều này.”; Như vậy, đến ngày 02/05/2026, Công ty mới nộp hồ sơ khai thuế GTGT tháng 12/2025, tức là chậm 102 ngày so với thời hạn quy định, có phát sinh số thuế phải nộp và đã nộp đủ tiền thuế, tiền chậm nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra hoặc lập biên bản. Do đó, Công ty bị xử phạt tiền trong khung từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Mức phạt theo khung nêu trên (trung bình khung là 20 triệu đồng) lớn hơn số thuế phát sinh phải nộp trên hồ sơ khai thuế (18.000.000 đồng), nên số tiền phạt tối đa áp dụng đối với Công ty chỉ bằng số tiền thuế phát sinh, tức là 18.000.000 đồng (không thấp hơn mức trung bình của khung phạt tiền tại khoản 4 Điều 13 Nghị định này (là 11.500.000 đồng)).

19

Công ty nộp hồ sơ khai thuế GTGT tháng 12/2025 tại ngày 30/01/2026 việc xác định mức phạt tiền cụ thể đối với Công ty được thực hiện như thế nào?

Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 13 Nghị định 125/2020/NĐ-CP: 2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 01 ngày đến 30 ngày, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP: “d) Khi phạt tiền, mức phạt tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm thủ tục thuế, hóa đơn và hành vi tại Điều 19 Nghị định này là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đó. Nếu có một tình tiết giảm nhẹ thì được giảm 10% mức tiền phạt trung bình của khung tiền phạt; nếu có một tình tiết tăng nặng thì được tính tăng 10% mức tiền phạt trung bình của khung tiền phạt. Trong trường hợp có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên, thì áp dụng mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên, thì áp dụng mức tối đa của khung tiền phạt.”.

Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế Giá trị gia tăng (GTGT) cho kỳ tính thuế tháng 12 năm 2025 chậm nhất là ngày 20/01/2026. Như vậy Công ty đã nộp hồ sơ khai thuế GTGT chậm 10 ngày so với thời hạn quy định. Hành vi này được xác định là vi phạm thủ tục thuế. Theo quy định, hành vi nộp hồ sơ khai thuế quá thời hạn từ 01 đến 30 ngày có khung tiền phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Theo quy định, mức phạt tiền cụ thể đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế được xác định bằng mức trung bình của khung tiền phạt, tức là 3.500.000 đồng. Trường hợp Công ty có 01 tình tiết giảm nhẹ (chủ động khắc phục, tự giác nộp hồ sơ trước khi bị nhắc nhở,…), mức phạt được giảm 10% của mức trung bình, tương ứng 3.150.000 đồng. Trường hợp Công ty có 01 tình tiết tăng nặng (đã từng bị xử phạt về hành vi tương tự trong vòng 01 năm,…), mức phạt được tăng 10% của mức trung bình, tương ứng 3.850.000 đồng. Trường hợp có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên, áp dụng mức tối thiểu của khung phạt, là 2.000.000 đồng. Trường hợp có từ 02 tình tiết tăng nặng trở lên, áp dụng mức tối đa của khung phạt, là 5.000.000 đồng. Việc xác định mức phạt nêu trên bảo đảm áp dụng thống nhất, minh bạch và đúng quy định của pháp luật.

20

Công ty khai thiếu doanh thu khi quyết toán thuế TNDN năm 2020, dẫn đến thiếu số thuế phải nộp 450 triệu đồng. Đến ngày 20/1/2026, cơ quan thuế phát hiện sai phạm. Trường hợp này có còn trong thời hiệu xử phạt không?

Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 6 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): b) Thời hiệu xử phạt đối với hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

Ngày thực hiện hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn hoặc hành vi trốn thuế (trừ hành vi tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này) là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế mà người nộp thuế thực hiện khai thiếu thuế, trốn thuế hoặc ngày tiếp theo ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế”. Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNDN năm 2020 là ngày 31/3/2021. Ngày thực hiện hành vi vi phạm được xác định là ngày 01/4/2021 (ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế). Thời hiệu xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp là 05 năm, tính từ ngày 01/4/2021 đến hết ngày 31/3/2026. Do cơ quan thuế phát hiện vi phạm vào ngày 20/1/2026, vẫn trong thời hiệu xử phạt, nên Công ty bị xử phạt theo quy định.

21

Công ty tôi không nộp hồ sơ khai thuế GTGT tháng 7/2025. Đến ngày 18/01/2026, cơ quan thuế kiểm tra và phát hiện hành vi vi phạm. Ngày nào được xác định là ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt?

Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 6 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): “b)… Đối với hành vi không nộp hồ sơ đăng ký thuế, không nộp hồ sơ khai thuế tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này là hành vi vi phạm hành chính về thuế đang được thực hiện, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm. Đối với hành vi nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Nghị định này thì ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế.”.

Đối với hành vi không nộp hồ sơ khai thuế, đây là hành vi vi phạm hành chính đang được thực hiện. Ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt là ngày cơ quan thuế phát hiện hành vi vi phạm, tức là ngày 18/01/2026.

22

Hộ kinh doanh Nguyễn Văn An thuộc trường hợp phải đăng ký thuế với cơ quan thuế bắt đầu hoạt động kinh doanh từ ngày 01/10/2025 nhưng đến ngày 17/1/2026 mới thực hiện đăng ký thuế với cơ quan thuế. Xin hỏi ngày thực hiện hành vi vi phạm và thời hiệu xử phạt được xác định ra sao?

Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 6 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): “a) Thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế là 02 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm. Ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế là ngày kế tiếp ngày kết thúc thời hạn phải thực hiện thủ tục về thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Căn cứ quy định tại điểm a khoản Khoản 2 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 6 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): “Đối với hành vi quy định tại khoản 1, điểm a, b khoản 2, khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 10; khoản 1, 2, 3, 4 và điểm a khoản 5 Điều 11; khoản 1, 2, 3 và điểm a, b khoản 4, khoản 5 Điều 13 Nghị định này, ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu là ngày người nộp thuế thực hiện đăng ký thuế hoặc thông báo với cơ quan thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế.” Hành vi của hộ kinh doanh Nguyễn Văn An là hành vi chậm thực hiện đăng ký thuế (thời hạn 10 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc bắt đầu hoạt động kinh doanh đối với trường hợp không cần đăng ký kinh doanh) nên thời hiệu là ngày người nộp thuế thực hiện đăng ký thuế. Hành vi của hộ kinh doanh Nguyễn Văn An thuộc nhóm vi phạm về đăng ký thuế theo các điều khoản được liệt kê trong quy định. Ngày thực hiện hành vi vi phạm để tính thời hiệu xử phạt là ngày 17/01/2026 (ngày hộ kinh doanh thực hiện đăng ký thuế). Thời hiệu xử phạt: 02 năm, tính từ ngày 17/01/2026 đến hết ngày 16/01/2028.

23

Nếu đã hết thời hiệu xử phạt thì cơ quan thuế có xử phạt người nộp thuế không?

Theo quy định tại Khoản 6 Điều 8 Nghị định 125/2020/NĐ-CP: a) Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ tiền thuế truy thu (số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn quy định, tiền chậm nộp tiền thuế) vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tiền thuế cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”

Như vậy, khi đã hết thời hiệu xử phạt, cơ quan thuế không ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó; tuy nhiên, người nộp thuế vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ khắc phục hậu quả theo quy định (nếu có).

24

Công ty A lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT tháng 1/2026 với số tiền đề nghị hoàn là 500 triệu đồng. Qua kiểm tra, cơ quan thuế xác định doanh nghiệp đã kê khai sai chi phí đầu vào, làm tăng số thuế được hoàn cao hơn thực tế 80 triệu đồng. Xin hỏi mức phạt đối với trường hợp trên?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 5 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): “b) Phạt tiền Mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính về thủ tục thuế và hóa đơn thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Phạt 20% số tiền thuế thiếu hoặc số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn cao hơn quy định đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn. Phạt từ 01 đến 03 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế. Phạt tiền tương ứng với số tiền không trích vào tài khoản của ngân sách nhà nước đối với hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định này.”

Căn cứ quy định tại Khoản 11 Điều 1 Nghị định số 310/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 16 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP: “c) Khai sai làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, giảm đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính xác định là hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế vi phạm hành chính lần đầu về hành vi trốn thuế, đã khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế vào ngân sách nhà nước trước thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt và cơ quan thuế đã lập biên bản ghi nhận để xác định là hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế;”. Công ty A lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT, chưa được hoàn thuế GTGT nên việc công ty có hành vi khai sai thuế GTGT nhưng chưa được hoàn thì không dẫn tới tăng số thuế được hoàn. Công ty có hành vi khai sai, khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế không dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc không dẫn đến tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn quy định tại Điều 12 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP.

25

Trong tháng 2/2026, công ty có phát sinh 01 lô hàng bán cho khách hàng nhưng không lập hóa đơn theo quy định. Hành vi này bị xử phạt như thế nào?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 14 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): “b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp không lập hóa đơn đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 02 số hóa đơn đến dưới 10 số hóa đơn và trường hợp không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định 01 số hóa đơn.”

Việc không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ là hành vi vi phạm quy định về hóa đơn. Trường hợp công ty không lập hóa đơn đối với 01 số hóa đơn thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo quy định tại Khoản 14 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP. Mức phạt cụ thể căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và mức độ vi phạm, đồng thời phải khắc phục sai sót về hóa đơn theo quy định.

26

Trong tháng 2 và tháng 3 năm 2026, công ty qua rà soát nội bộ phát hiện đã bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhưng không lập hóa đơn đối với 55 giao dịch bán hàng theo quy định. Trường hợp này sẽ bị xử phạt như thế nào?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 14 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): “3. Hành vi không lập hóa đơn theo quy định bị xử phạt như sau: …

e) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng trong trường hợp không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định từ 50 số hóa đơn trở lên.”

Theo quy định tại Khoản 14 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, Công ty sẽ bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.Mức phạt cụ thể căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và mức độ vi phạm, đồng thời phải khắc phục sai sót về hóa đơn theo quy định.

27

Công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh hàng tiêu dùng. Cuối tháng 1/2026, Công ty có phát sinh các hoạt động sau: Xuất hàng khuyến mại và hàng mẫu cho khách hàng để giới thiệu sản phẩm mới; Xuất hàng hóa biếu, tặng cho một số đối tác; Xuất hàng hóa tiêu dùng nội bộ phục vụ hoạt động của doanh nghiệp. Công ty đã lập hóa đơn chậm so với thời điểm xuất hàng đối với 03 lần xuất hàng trên (tương ứng 03 số hóa đơn); Xin hỏi mức phạt đối với trường hợp trên?

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 24 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 14 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP): “b) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng trong trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm đối với các hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa từ 02 số hóa đơn đến dưới 10 số hóa đơn và trường hợp lập hóa đơn không đúng thời điểm khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ 01 số hóa đơn”.

Hành vi của Công ty được xác định là lập hóa đơn không đúng thời điểm đối với: Hàng hóa dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, biếu, tặng, tiêu dùng nội bộ với số lượng từ 02 số hóa đơn đến dưới 10 số hóa đơn. Theo quy định, công ty bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng, mức phạt cụ thể căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và mức độ vi phạm, đồng thời phải khắc phục sai sót về hóa đơn theo quy định.

28

Tháng 10/2025, Công ty bị xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn do lập hóa đơn không đúng thời điểm, theo quy định tại Nghị định 125/2020/NĐ-CP. Sau khi nhận quyết định xử phạt, Công ty thực hiện khiếu nại vì cho rằng mức phạt chưa phù hợp. Đến tháng 3/2026, vụ việc vẫn đang trong quá trình giải quyết khiếu nại. Vậy việc giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định nào?

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 310/2025/NĐ-CP: “3. Đối với các hành vi vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn đã bị xử phạt trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà cá nhân, tổ chức còn khiếu nại, khởi kiện thì được giải quyết theo quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn và các quy định pháp luật liên quan có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm.”

Trường hợp này, việc giải quyết khiếu nại tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm, tức là Nghị định 125/2020/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan.

 

Điểm mới Nghị định 310/2025/NĐ-CP về xử phạt thuế, hóa đơn

Liên hệ nếu quý khách cần tư vấn thêm: Ms Huyền Hotline/Zalo – 094 719 2091

Email: pham.thi.thu.huyen@manaboxvn.jp.

Đăng ký tham dự hội thảo do Manabox tổ chức

_______________

Công ty TNHH Manabox Việt Nam
Phòng 701, tầng 7, tòa nhà 3D center, số 3 Duy Tân, Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, Việt Nam Facebook: https://www.facebook.com/ManaboxVietnam
Nhóm Zalo để thảo luận Miễn phí và hỗ trợ mùa quyết toán: https://zalo.me/g/ryjjoq044

    Liên hệ với chúng tôi




    You cannot copy content of this page.

    Please contact with Manabox for more support.